Nguyên tắc trong điều trị ung thư

Ung thư đang tăng nhanh tại Việt Nam, với tỉ lệ trung bình khoảng 150.000 ngàn ca bệnh mới mỗi năm.

Những dấu hiệu cảnh báo bạn có nguy cơ bị ung thư

Có những loại ung thư chúng ta có thể nhận thấy dấu hiệu ở những giai đoạn sớm, nhưng cũng có những loai ung thư gần giai đoạn cuối mới phát hiện. Vậy dấu hiệu nào cho thấy chúng ta có khả năng bị ung thư?

U lạ trong vú, có phải ung thư?

Nhiều chị em rất lo âu hoảng hốt khi thấy mình có 1 cái u nhỏ trong vú, nhưng điều này không có nghĩa là bạn bị ung thư.

Nhóm máu nào dễ bị ung thư?

Theo các nhà khoa học, nhóm máu có mối quan hệ với nguy cơ bị ung thư. Vậy nhóm máu nào dễ mắc bệnh ung thư hơn?

Ung thư phổi

Ung Thư Phổi Ðứng Ðầu Trong Mười Loại Ung ThưThông Thường Nhất

Thứ Sáu, ngày 04 tháng 4 năm 2014

Phân biệt bệnh bạch tạng và bạch biến

Em tôi bị bệnh bạch tạng, nhưng có người đến nhà gặp và bảo rằng bị bệnh bạch biến. Xin bác sĩ cho biết bạch tạng và bạch biến có phải là cùng một bệnh không? ( antony@hotmail.com)

bach tang
Bạch tạng và bạch biến cùng là bệnh giảm sắc tố da. Tuy nhiên có nguyên nhân khác nhau và biểu hiện như sau:

Bạch tạng (albinism) là bệnh giảm sắc tố di truyền, tính lặn với biểu hiện giảm sắc tố đồng đều ở da, tóc và võng mạc. Bạch tạng hiếm khi chỉ biểu hiện ở da, nhưng có thể chỉ biểu hiện ở mắt một cách đơn thuần.

Cơ chế bệnh sinh có liên quan đến vai trò của men tyrosinase trong việc chuyển hóa tyrosin thành DOPA. Bệnh biểu hiện với da bị giảm hay mất hẳn sắc tố, tóc bạc. Người bệnh sợ ánh sáng, bị giật nhãn cầu.

Khám ghi nhận đáy mắt và mống mắt trong suốt. Hậu quả là bệnh nhân bị giảm thị lực, không chịu được ánh sáng mặt trời, da nhạy cảm với tia cực tím và dễ bị ung thư da ở vùng tiếp xúc với ánh sáng. Người bệnh cần mang kính mát, khăn che ánh sáng mặt trời.

Bạch biến (vitiligo) là bệnh giảm sắc tố da khu trú, tự phát với biểu hiện là các dát trắng. Bệnh có tính gia đình, hầu hết bệnh nhân đều khỏe mạnh song có các bệnh kết hợp khác như bệnh tuyến thượng thận, tiểu đường, thiếu máu, thiểu sản tủy.

Trong bạch biến, tỷ lệ viêm mống mắt chiếm khoảng 10%. Tiêu bản mô học cho thấy chỗ da bị bạch biến không có tế bào sắc tố. Người bệnh không nên coi bệnh bạch biến chỉ ở khía cạnh thẩm mỹ đơn thuần mà cần chú ý tới các bệnh đi kèm.

TS. BSNguyễn Trí Dũng

(Theo Thanh niên)

Thứ Năm, ngày 03 tháng 4 năm 2014

Có phương pháp nào mới để chữa bệnh bạch biến không?

Tôi mắc bệnh bạch biến đã bốn năm và đã dùng rất nhiều loại thuốc để chữa nhưng không bớt. Vùng da tôi bị tổn thương khu trú ở trán đường kính khoảng 4cm, nay tôi muốn hỏi BS có phương pháp nào mới để chữa được bệnh của tôi không? (Nguyễn Văn Nhân)

bach bien
Bạch biến là một bệnh lý của da thường gặp, chiếm 1-2% dân số. Bệnh được biểu hiện là một hoặc nhiều tổn thương da mất sắc tố, giới hạn rõ, bề mặt láng phẳng. Nguyên nhân chưa rõ. Tuy nhiên người ta thấy rằng bệnh có liên quan đến yếu tố gia đình (20-30% bệnh khi trong gia đình có người bị bệnh) và hiện tượng tự miễn.

Chúng ta cần phân biệt với những trường hợp mất sắc tố da sau viêm. Tổn thương da trong các trường hợp này có màu hơi trắng hơn vùng da xung quanh, vẩy mịn và ít trên bề mặt. Thường gặp sau khi mắc một số bệnh da như viêm da, vẩy phấn trắng, chấn thương da… Tình trạng mất màu da trong những trường hợp này có thể tự hồi phục sau một thời gian dài. Tuy nhiên trong vài trường hợp có thể mất sắc tố vĩnh viễn.

Một số phương pháp điều trị bạch biến như:

1. PUVA (uống hoặc bôi Psoralen phối hợp chiếu UVA); chiếu UVB dải hẹp. Kết quả tương đối và tạm thời. Psoralen, thường được dùng nhất là 8-methxypsoralen (Meladinine®), có thể gây ngứa, đỏ, bỏng da.

2. Tẩy trắng vùng da xung quanh để tổn thương không bị nổi rõ.

3. Trang điểm che lấp tổn thương bằng các mỹ phẩm có độ dính cao. Đây là những sản phẩm có ghi “concealer” ngoài nhãn.

4. Bôi hoặc chích corticosteroids tại tổn thương. Phương pháp này gây nhiều tác dụng phụ.

5. Các thuốc bôi có tác dụng tái tạo sắc tố tích cực hơn là Calcipotriol (Daivonex®) hoặc Tacrolimus 0.1%. Phương pháp này cho kết quả khả quan sau một thời gian dài và ít gây tác dụng phụ trên da.

6. Các phương pháp can thiệp mạnh hơn trên tổn thương bạch biến là xăm màu; ghép tế bào hắc tố hoặc ghép da tự thân. Tuy nhiên các phương pháp này chưa được thực hiện phổ biến tại VN.

Với trường hợp của bạn thì nên dùng Tacrolimus bôi (theo sự hướng dẫn và tư vấn của bác sĩ chuyên khoa da liễu) phối hợp với concealer.

THS. BS Lê Thái Vân Thanh (Bệnh viện Đại học Y dược TP.HCM)

(Theo Tuổi trẻ)

Thứ Ba, ngày 01 tháng 4 năm 2014

Phòng ngừa Ung thư da

Hầu hết các trường hợp ung thư da đều có thể phòng ngừa được. Bạn nên thực hiện theo một số biện pháp sau để duy trì sự khoẻ mạnh của làn da.

Những cách phòng ngừa:

phong ngua ung thu da
Giảm thời gian phơi nắng. Tránh làm việc và tiếp xúc ánh nắng mặt trời quá lâu. Bỏng nắng, sạm nắng đều tăng nguy cơ ung thư da. Tránh để con bạn phơi nắng nhiều trên bãi biển, hồ bơi, tuyết, nước, băng… đều phản xạ ánh nắng mặt trời. Tia cực tím thường mạnh nhất vào khoảng từ 10 giờ sáng đến 3 giờ chiều mỗi ngày. Các đám mây chỉ hấp thụ và che chắn một phần nhỏ các tia nguy hại này.

Nên dùng kem chống nắng trước khi tiếp xúc nhiều với ánh nắng mặt trời. Các loại kem chống nắng hiện nay chứa các chất ngăn chặn tác hại của tia UVA và UVB, thường gặp là: avobenzone, titanium, dioxide, kẽm oxide. Dùng kem chống nắng cho tất cả những vùng phơi sáng, kể cả môi, 30 phút trước khi ra nắng, rồi thoa lại sau vài giờ (nên thoa nhiều lần hơn nếu bạn đi bơi, tắm biển…). Bạn cần dùng kem chống nắng cho các em nhỏ cũng như hướng dẫn các bé lớn cách sử dụng.

Hãy tránh xa những chiếc giường tắm nắng và những yếu tố làm da rám nắng nhiều hơn.

Kiểm tra sức khoẻ da thường xuyên, ít nhất mỗi 3 tháng, phát hiện sớm những vùng da phát triển bất thường, các nốt ruồi thay đổi kích thước, tính chất, kiểm tra những vùng da thường xuyên phơi sáng cũng như lòng bàn tay, bàn chân và da vùng sinh dục.

Để phát hiện ung thư tế bào hắc tố và các loại ung thư da khác nhau, bạn cần theo các bước A-B-C-D sau đây:

A (Asymmetrical shape): Tổn thương bất thường nhất là các nốt ruồi hoá ác.

B (Boder): Chu vi tổn thương bất thường nhất là các nốt ruồi hoá ác.

C (Color): Màu sắc thay đổi, nhiều màu hoặc màu không đồng nhất.

D (Diameter): Đường kính nốt ruồi, nghi ngờ nếu đường kính lớn hơn inch (6mm).

Nếu gia đình bạn từng có người bị ung thư tế bào hắc tố, đồng thời bạn đang có nhiều nốt ruồi trên người đặc biệt là ở cổ, nơi bạn ít để ý nhất bạn cần khám ở các chuyên gia da liễu để kiểm tra chúng thường xuyên, theo lịch sau: Nếu từ 20 – 39 tuổi: kiểm tra mỗi 3 năm. Nếu từ 40 tuổi trở lên thì nên kiểm tra hàng năm.

Thứ Hai, ngày 31 tháng 3 năm 2014

Ung thư tế bào hắc tố là gì

Mặc dù có nhiều bệnh lý khác không phải ung thư da đôi khi cũng gây ra những biến đổi da tương tự, nhưng tốt nhất bạn nên đến khám ở bác sĩ để có chẩn đoán xác định.

Ung thư tế bào hắc tố:

ung thu hac to

-      Một đốm lớn màu hơi nâu với những chấm lốm đốm màu đen, ở bất cứ nơi nào trên cơ thể bạn

-      Một nốt ruồi đơn độc có biến đổi màu sắc, kích thước, mật độ, chảy máu hoặc ức chế sự phát triển của lông tóc xung quanh.

-      Một sang thương nhỏ có vùng biên bất thường màu đỏ, trắng, xanh hoặc xanh đen trên thân thể hoặc tay chân.

-      Những u da sáng màu, cứng chắc, dạng bán cầu ở bất cứ nơi nào trên cơ thể bạn.

-      Những sang thương sậm màu ở lòng bàn tay, lòng bàn chân, đầu ngón tay ngón chân hoặc trên màng nhầy da lót mặt trong miệng, mũi, âm đạo và hậu môn.

Ngoài ra còn có những dạng ung thư da khác hiếm gặp, như sarcome Kaposi (dạng ung thư da nặng thường gặp ở những người bị suy giảm miễn dịch, như mắc hội chứng AIDS hoặc uống thuốc ức chế miễn dịch trong ghép cơ quan).

Các sang thương tiền ung thư, như chứng dày sừng quang hoá cũng có thể hoá ác. Các sang thương này thường là những mảng có bề mặt xù xì, có vảy, màu hồng sậm, thường gặp trên da mặt, cẳng tay hoặc bàn tay và những vùng da phơi nắng.

Thứ Bảy, ngày 29 tháng 3 năm 2014

Yếu tố gây ung thư da

Tiếp xúc với những nguy hại của môi trường như môi trường như môi trường hoá chất, thuốc diệt cỏ cũng tăng nguy cơ ung thư daNói chung nguy cơ mắc ung thư da của bạn tăng lên theo tuổi, thường nhất là sau 50 tuổi. Tuy nhiên một số trường hợp vẫn thấy ung thư ở người trẻ từ 20 – 40.

Các yếu tố sau có thể làm tăng nguy cơ ung thư da của bạn:

yeu to ung thu da
Da trắng: Da ít hắc tố (melanin) có khả năng bảo vệ chống tia cực tím thấp. Nếu bạn có mái tóc hoe vàng hoặc đỏ nâu, mắt sáng màu, da dễ bị tàng nhang hoặc dễ sạm nắng, nguy cơ ung thư da của bạn cao gấp 20 – 30 lần hơn so với những người có đặc điểm tương ứng sậm màu hơn.

Tiền sử da sạm nắng: Sạm nắng là một hiện tượng tự bảo vệ của da chống lại các tia mặt trời có hại. Cứ mỗi lần phơi nắng, bạn lại làm tăng nguy cơ ung thư da. Những người từng bị sạm nắng nặng một hoặc nhiều lần khi còn nhỏ có nguy cơ ung thư da tăng cao lúc trưởng thành.

Phơi nắng quá nhiều: những người tiếp xúc nhiều với ánh sáng mặt trời, nhất là không dùng kem chống nắng hoặc quần áo, có nguy cơ cao bị ung thư da cao hơn những người xứ lạnh, cũng tương tự cho người sống vùng cao, nơi ánh sáng mặt trời gay gắt hơn và chịu ảnh hưởng của tia cực tím nhiều hơn.

Nối ruồi: Những người bị loạn sản nơ-vi có nguy cơ cao bị ung thư da. Những nối ruồi này trông bất thường và lớn hơn những nốt ruồi thông thường. Nếu bạn có những nốt ruồi loại này, nên theo dõi thường xuyên sự biến đổi của nó. Ngoài ra, những người có quá nhiều nốt ruồi có nguy cơ cao gấp 15 – 20 lần bình thường.

Các sáng thương da tiền ung thư: Mắc một số sang thương da, như chứng dày sừng quang hoá, có thể tăng nguy cơ phát triển ung thư da. Chúng thường là những mảng gồ ghề, có vảy, màu nâu hoặc hồng sậm, thường thấy ở da mặt, cẳng tay, bàn tay của những người có nước da trắng bị sạm nắng thường xuyên.

Tiền sử gia đình có người bị ung thư da: Nguy cơ ung thư da của bạn tăng lên nếu cha mẹ ruột hoặc anh chị em ruột đã bị bệnh này.

Tiền sử bản thân: Người từng bị ung thư da sẽ có nguy cơ tái phát.

Hệ miễn dịch bị suy yếu: Những bệnh nhân ghép cơ quan phải sử dụng các thuốc ức chế hệ miễn dịch, người mắc bệnh ung thư máu, có nguy cơ cao ung thư da.

Da mỏng: Da bị mỏng do bỏng hoặc tổn thương bởi các bệnh lý khác, hoặc một số biện pháp điều trị bệnh vẩy nến, có thể làm tăng nguy cơ ung thư da.


Thứ Sáu, ngày 28 tháng 3 năm 2014

Điều trị Ung thư da

Các biện pháp điều trị ung thư và sang thương tiền ung thư da thay đổi tuỳ theo kích thước, phân loại, độ ăn sâu và vị trí của một hoặc nhiều sang thương. Hầu hết đều dùng biện pháp vô cảm tại chỗ và điều trị ngoại trú, nhưng đôi khi chỉ thực hiện sinh thiết sang thương.

Một số phương pháp thường dùng là:

dieu tri ung thu da
Đông lạnh: Người ta có thể phá huỷ các tế bào dày sừng hoặc các ung thư nhỏ giai đoạn sớm bằng cách làm đông lạnh chúng với ni-tơ lỏng. Mô chết sẽ bị tróc ra sau khi giải đông. Biện pháp này cũng có thể dùng để điều trị các vết sẹo trắng nhỏ.

Phẫu thuật: Áp dụng cho tất cả các loại ung thư da. Bác sĩ cắt bỏ mô ung thư và bao phủ vùng bị cắt bởi mô da bình thường. Ung thư tế bào hắc tố thường phải khoét rộng hơn do mô ung thư ăn sâu hơn. Phẫu thuật viên cần phải có kinh nghiệm phục hình da để tránh sẹo xâu nhất là vùng da mặt.

Điều trị bằng laser: Chùm sáng năng lượng cao và được điều khiển rất chính xác có thể ngăn chặn, phá huỷ vùng mô bệnh và một khu vực nhỏ mô bao quanh với khả năng chảy máu, sưng tấy cũng như sẹo xấu rất thấp. Thường sử dụng biện pháp này cho các sang thương ung thư và tiền ung thư bề mặt, ngay cả ở môi.

Phẫu thuật Moh: Dùng cho các sang thương ung thư da lớn hơn, tái phát hoặc khó điều trị, cho cả loại ung thư tế bào đáy và tế bào sừng. Phẫu thuật cắt bỏ từng lớp da bị ung thư, kiểm tra dần từng lớp bên dưới cho đến lớp tế bào lành. Không gây nhiều tổn thương cho vùng da bình thường xung quanh.

Nạo và đông khô tế bào bằng xung điện

Xạ trị: Dùng tia phóng xạ điều trị mỗi ngày, thường kéo dài khoảng 1 - 4 tuần, có thể phá huỷ các tế bào đáy hoặc sừng ung thư nếu không có chỉ định phẫu thuật.

Hoá trị liệu: Trong phương pháp này, người ta dùng thuốc để tiêu diệt tế bào ung thư mà không gây nguy hại cho tế bào bình thường. Thuốc có thể dùng thoa tại chỗ hoặc dùng đường uống, chích tĩnh mạch.

Các phương pháp đang còn nghiên cứu: Quang động học; liệu pháp sinh học (còn gọi là miễn dịch liệu pháp)…

Thứ Năm, ngày 27 tháng 3 năm 2014

Các dạng lâm sàng của ung thư hắc tố

Dựa vào đặc điểm lâm sàng và mô bệnh học, ung thư hắc tố chia ra 4 loại:

Nốt ruồi ác tính hay ung thư hắc tố tại chỗ

- Khởi đầu là một nốt ruồi bình thường tồn tại bình thường sau nhiều năm có thể hàng chục năm, đột nhiên thấy nó trở nên sậm màu, lan rộng, to dần ra.

ung thu da hac to
- Diễn tiến: vì diễn tiến chậm nên người bệnh ít chú ý, dân dần nó xâm lấn sâu và rộng ra chung quanh, bóp cứng, dễ chảy máu. Khi nó trở thành ung thư rồi thì diễn tiến nhanh và đưa đến di căn.

- Bệnh xảy ra ở mọi lứa tuổi nhưng ở người nhiều tuổi thường gặp hơn.

- Vị trí: thường bị là những nốt ruồi ở vùng da phơi bày ra ánh nắng, trên má.

Ung thư hắc tố cạn nhưng lan rộng

- So với nốt ruồi ác tính, dạng nầy thường gặp hơn. Khối u có dạng cục, cứng, bờ lồi lỏm, khảm sâu dưới da, bề mặt nhám, không đều. Trên vùng da của khối u có nhiều màu sắc như nâu đen, đỏ, lục và trắng.

- Bệnh thường xuất hiện ở người trẻ, vị trí thường gặp là lưng, cẳng chân, nhưng cũng có thể xuất hiện ở bất cứ chỗ nào.

- Tiến triển nhanh, khi bệnh nặng rồi sẽ dễ chảy máu, da có thể lở loét và di căn.

Ung thư hắc tố nốt ruồi đầu chi

- Dạng nầy hiếm gặp hơn hai dạng trên, ít ác tính hơn.

- Thương tổn lúc đầu giống như một mảng màu nâu ở vùng đầu ngón, trên móng. Rất dễ bị chẩn đoán lầm là nấm móng hay bị dập móng. Mảng có thể tồn tại lâu, nhưng cần phải để ý khi đột ngột màu trở nên đậm hơn, và chuyển thành dạng cục, u hay hóa loét, chảy máu. Khối u có hình dạng không đều, lan rộng nhanh và di căn đến các hạch và nội tạng.

- Vị trí: thường ở vùng đầu chi như đầu ngón tay, đầu ngón chân, móng, lòng bàn tay, lòng bàn chân.

Ung thư hắc tố dạng cục

Tổn thương lúc đầu có thể từ một nốt ruồi tồn tại trong nhiều năm, sau thành một cục sậm màu, kích thước không cố định, nhô lên. Đột ngột khối u to lên, thay đổi màu, chảy máu, thành bướu, loét và di căn xảy ra.

(Theo Da Liễu)